Nguồn: PC World Mỷ
Hiện tượng chữ nhỏ li ti, hình nhòe và màn hình rung không chỉ gây khó chịu cho người dùng mà còn làm mỏi mắt, giảm hiệu suất làm việc. Xin đừng vội qui kết mọi tội lỗi cho màn hình! Bạn hãy thử thực hiện một số điều chỉnh cấu hình card đồ họa và Windows trước khi quyết định thay thế màn hình mới.

Card đồ họa được điều khiển bởi trình điều khiển (driver) Windows nên bạn cần cập nhật phiên bản trình điều khiển mới nhất. Muốn biết thông tin phiên bản, bạn nhấn phải chuột lên Desktop, chọn Properties để mở hộp thoại Display Properties, nhấn Settings. Advanced.Adapter (trong Windows XP, chọn Properties .Driver).
Sau đó, bạn thăm Web site nhà sản xuất card đồ họa để tải về trình điều khiển mới nhất. Đừng tải phiên bản “beta” do chúng chưa thật hoàn thiện, có thể gây trục trặc cho hệ thống.

Cấu Hình Thông Số Phổ Biến
Hầu hết các thông số dưới đây đều có trong tất cả trình điều khiển đồ họa.



Hình 1: Thiết lập độ phân giải và các thông số cài đặt từ cửa sổ Display Properties
Độ phân giải (resolution): qui định số chấm (dot) hoặc điểm ảnh (pixel - viết tắt của picture elements) hiển thị trên màn hình: độ phân giải càng cao, lượng điểm ảnh trong mỗi inch vuông càng nhiều. Nhờ vậy, hình ảnh hiển thị sắc nét hơn khi bạn tăng độ phân giải; nhưng đồng thời card đồ họa và bộ xử lý cũng phải làm việc vất vả hơn.
Trong vài năm gần đây, độ phân giải 1.024x768 trở nên phổ biến. Card đồ họa hiện nay hỗ trợ độ phân giải lên đến 1.600x1.200 nhưng hệ máy cũ vẫn chỉ hỗ trợ độ phân giải 800x600.
Để điều chỉnh độ phân giải, bạn mở Display Properties .Settings, trượt con chạy screen area (screen resolution) sang hướng More hoặc Less để tăng/giảm độ phân giải (Hình 1). Khi tăng độ phân giải, hình ảnh sắc nét hơn nhưng kích thước chữ, biểu tượng và đối tượng bị thu nhỏ lại. Vì thế, bạn có thể điều chỉnh thử nghiệm vài lần để tìm ra độ phân giải phù hợp. Với màn hình 17', độ phân giải 1024x768 cho phép đọc chữ dễ dàng nhất.
Độ sâu màu (color depth) qui định lượng màu sắc được card đồ họa tái hiện. Lượng màu thể hiện càng lớn, màu sắc hình ảnh càng được thể hiện trung thực nhưng đồng thời hệ thống buộc phải xử lý nặng nề hơn.
Thông số độ sâu màu thường được gọi là Colors (Color Quality trong Windows XP) trong cửa sổ Display Properties.Settings. Tên chế độ màu thay đổi theo số bit thông tin màu của mỗi điểm ảnh: True Color (24 bit) tạo được 16.777.216 màu, High Color (16 bit) tái hiện được 65.536 màu. Chế độ màu thấp hơn mức 16 bit thường không đẹp. Trình điều khiển hiện nay đang dần loại bỏ chế độ 8 bit (256 màu) hoặc 15 bit (32536 màu).
Hầu hết PC mới đều hỗ trợ độ sâu màu 32 bit, tái hiện hơn 16 triệu màu (tương đương True Color). 8 bit dư được dùng để lưu thông tin hiệu ứng mờ; hữu ích khi chơi game 3D nhưng lại không mấy tác dụng trong công việc hàng ngày.



Hình 2: Windows XP liệt kê thông số độ phân giải, độ sâu màu và tần số quét theo dạng tổng hợp
Tần số quét (refresh rate): có đơn vị là hertz (Hz), thể hiện số chu kỳ tia điện tử quét qua điểm ảnh trong một giây (tham khảo “Mỏng, phẳng, trung thực”, PCW VN A 5/2003). Nếu tần số quét chậm, hình ảnh hiển thị trên màn hình sẽ rung, chập chờn nên gây khó chịu, hại mắt và nhức đầu cho người sử dụng. Vì thế, tần số quét không nên thấp hơn 72Hz; tối thiểu cũng phải 80Hz.
Tương tự cách chỉnh độ phân giải, bạn nên lần lượt điều chỉnh nhiều chế độ rồi chọn ra chế độ phù hợp nhất. Lưu ý, tần số quét cao khiến chất lượng hiệu ứng mờ giảm xuống và rất ít người trong chúng ta có thể cảm nhận được hiệu quả của tần số quét cao hơn 85Hz.
Để điều chỉnh tần số quét màn hình trong Windows XP, bạn mở Display Properties, nhấn Settings. Advanced.Adapter .List All Modes, chọn chế độ (gồm độ phân giải, độ sâu màu và tần số quét) trong danh sách tổ hợp đề nghị (Hình 2). Với phiên bản Windows khác, bạn mở Display Properties, nhấn Settings. Advanced .Adapter, chọn giá trị trong trình đơn thả Refresh Rate.
Năng lực xử lý của card đồ họa có giới hạn mà lại phải chia sẻ cho 3 thông số độ phân giải, độ sâu màu, tần số quét nên khi thấy không có nhiều giá trị tần số quét trong trình đơn thả, bạn có thể giảm hai thông số còn lại. Ví dụ, nếu giảm độ sâu màu từ 32 bit xuống 16 bit (chất lượng hình ảnh suy giảm không đáng kể), tần số quét có thể tăng từ 60Hz lên 72Hz. Windows tự động thiết lập tần số quét 60Hz (trị số an toàn) khi không thể nhận diện ra màn hình.



Hình 3: Tên màn hình trong Display Properties. Setting chính xác chưa?
Để kiểm tra xem Windows XP đã nhận đúng màn hình chưa, bạn mở cửa sổ Display Properties, chọn Settings. Advanced .Monitor. Nếu thấy tên màn hình hiển thị trong mục Monitor Type chưa đúng, bạn hãy ghé Web site của nhà sản xuất để tải về trình điều khiển màn hình mới nhất. Với phiên bản Windows khác, bạn nên kích hoạt tính năng Plug and Play Monitors và kiểm tra tên màn hình xuất hiện trong mục Monitor trên cửa sổ Display Properties .Settings (Hình 3). Sau đó, đặt tần số quét cao hơn giá trị 60Hz mặc định của Windows.
DirectX: là thành phần trong Windows chuyên kiểm soát chức năng đa phương tiện. Muốn biết thông tin phiên bản của DirectX, bạn nhấn Start.Run, nhập dxdiag rồi nhấn OK. Bạn chọn nhãn System, thông tin tổng quát được liệt kê trong khung System Information bên dưới (Hình 4). DirectX 9 hiện là phiên bản mới nhất, bạn có thể tải về tại find.pcworld.com/34517.
Vặn Nút Điều Chỉnh



Hình 4: Công cụ DirectX Diagnostic cung cấp thông tin phiên bản và các dữ kiện đa phương tiện khác
Chất lượng hình ảnh hiển thị trên màn hình còn được cải thiện bằng cách vặn nút điều chỉnh trên vỏ màn hình. Thông thường, mọi màn hình đều có nút chỉnh độ sáng, tương phản, màu sắc...
Điều chỉnh độ sáng và độ tương phản: Sau khi hiển thị thang độ xám như Hình 5 (có thể tải tại find.pcworld.com / 34532) lên màn hình, bạn điều chỉnh sao cho mắt phân biệt được càng nhiều vạch xám trong 17 mức của thang càng tốt. Trong phòng sáng, hai (ba) mức tối nhất rất khó phân biệt.
Chỉnh tâm và dóng thẳng: Rất ít màn hình xuất xưởng hiển thị tối ưu về mặt hình học. Bạn hãy dùng các nút điều chỉnh vị trí của màn hình để canh lại tâm màn hình, chỉnh thẳng cạnh biên và mở rộng vùng hiển thị ra hết diện tích màn ảnh.
Để tránh mỏi mắt và tổn thương vật lý cho cơ thể, bạn cần đặt màn hình ngang tầm mắt và cách xa đầu một cánh tay. Đồng thời, bạn không nên để ánh sáng từ đèn hoặc cửa sổ chiếu thẳng vào màn hình; sử dụng thêm kính lọc Glare Master (giá 34USD tại Mỹ) của Kensington (www.kensington.com) nếu cần.
Lau sạch màn hình: Nhẹ nhàng lau sạch màn hình bằng khăn ẩm sạch và mềm. Trừ trường hợp màn hình quá bẩn, bạn không nên dùng dung dịch tẩy rửa để tránh làm hỏng lớp bảo vệ phủ mỏng trên màn hình. Dọn sạch bụi bám trong khe thông gió trên vỏ màn hình sẽ giúp nhiệt thoát nhanh hơn.

Các Xử Lý Khác
Nếu màn hình không sáng, lý do thường gặp là cáp màn hình đứt, mất nguồn, độ sáng bị chỉnh quá thấp hoặc màn hình hỏng. Ngay khi ngửi thấy mùi khét hoặc nghe có tiếng nổ lách tách trong màn hình, bạn nên tắt điện ngay vì màn hình thuộc loại thiết bị có thể tự cháy.



Hình 5: Chỉnh độ tương phản và độ sáng cho đến khi phân biệt được đầy đủ 17 sámắc độ x
Trước tiên bạn hãy kiểm tra lỗi từ trình điều khiển, cài đặt trình điều khiển card đồ họa chuẩn của Windows. Nếu trục trặc biến mất, bạn tiếp tục cài đặt trình điều khiển màn hình từ bản sao hoặc phiên bản cập nhật bạn vừa tải về.
Một số card đồ họa không chạy hoặc làm việc tốt với thiết bị phần cứng khác. Vì thế, Windows cho phép bạn vô hiệu hóa các chức năng tăng tốc đồ họa để tăng tính tương hợp. Mở Display
Properties, nhấn Settings . Advanced.Performance trong Windows 98 và Me. Di chuyển con trượt bên dưới ‘Hardware Acceleration’ về bên trái để vô hiệu hóa các chức năng tăng tốc đồ họa.
Hình trên màn hình bị mờ hoặc rung có thể do tác động bởi từ trường xung quanh. Bạn nên dời đồng hồ, thiết bị dùng mô tơ điện hoặc thiết bị tiêu thụ điện cao (lò vi ba, bàn ủi,...) ra xa màn hình. Đường dây điện cũng gây ra từ trường nhưng lại không dễ di chuyển chút nào, bạn đành tìm cho màn hình một vị trí mới cách xa đường dây điện.
Nếu hình hiển thị nhuộm màu đỏ, xanh dương, xanh lục, bạn nên kiểm tra cáp nối card đồ họa. Dùng kìm mỏ nhọn để nắn lại kim trong đầu cáp nối nếu thấy cần. Nút hội tụ (convergence) trên màn hình giúp bạn khắc phục hiện tượng hình ảnh hiển thị bị đường viền bao quanh.

Tối ưu hiển thị đồ họa

--------------------------------------------------------------------------------

Hãy suy nghĩ về điều này: mỗi ngày, bạn mất khá nhiều thời gian ngồi trước màn hình máy tính nhưng tâm trạng thì như người ngủ gật. Liệu có biện pháp nào để làm cho hình ảnh trở nên bắt mắt và dễ chịu hơn? Nếu gần đây bạn chuyển sang sử dụng màn hình LCD thì chắc chắn bạn biết rõ việc điều chỉnh thiết bị này không giống với khi sử dụng màn hình CRT thông thường. Mặc dù hững thủ thuật được đề cập trong bài viết chủ yếu dùng cho LCD, nhưng nhiều thiết lập cũng có thể áp dụng cho màn hình CRT.

CÀI TRÌNH ĐIỀU KHIỂN MỚI NHẤT



Hình 1: Cài đặt driver mới nhất cho card đồ họa, bạn có thể cải thiện tốc độ và tránh trục trặc phần cứng.
Bất kể loại màn hình nào (CRT hay LCD), phần lớn chất lượng hình ảnh được hiển thị đều phụ thuộc vào card đồ họa hoặc chipset (trên bo mạch chủ). Trước hết, phải đảm bảo bạn đã sử dụng phiên bản mới nhất của trình điều khiển thiết bị (driver) đồ họa. Đây là một trong các biện pháp dễ dàng và hiệu quả nhất để tối ưu hình ảnh và tránh các trục trặc từ phần cứng. Trong Windows XP, bạn nhấn phải chuột lên biểu tượng My Computer, chọn Properties, nhấn Hardware.Device Manager, sau đó nhấn đúp chuột vào tên card đồ họa bên dưới mục Display adapters; cuối cùng chọn Update Driver ở nhãn Driver (Hình 1). Lưu ý, việc cập nhật driver thường yêu cầu khởi động lại máy tính để các thiết lập mới trở nên có hiệu lực.
KHÔNG nên sử dụng phiên bản driver thử nghiệm (beta) thường được cung cấp trên website của hãng sản xuất card đồ họa vì có thể gây rắc rối cho hoạt động của máy tính.
Bạn có thể cấu hình card hoặc chipset đồ họa từ hộp thoại Display Properties của Windows: nhấn phải chuột lên màn hình Windows (desktop) và chọn Properties. Các thông số cài đặt mà bạn nhìn thấy sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng hệ thống cụ thể và đuợc xác định bởi driver đang sử dụng, nhưng tất cả card đồ họa (hay chipset đồ họa) đều có các thông số quan trọng sau:
Độ phân giải màn hình: Đối với màn hình CRT, độ phân giải màn hình (Screen resolution) - số lượng các chấm (điểm ảnh – pixel) được phân bố theo chiều dọc và chiều ngang trên khắp màn hình - là tỷ lệ có thể thay đổi. Bạn có thể tăng hoặc giảm các thông số độ phân giải mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh. Tuy nhiên, điều này không đúng vói màn hình LCD vì loại màn hình này có số lượng điểm ảnh cố định, tạo nên độ phân giải "thực" (native resolution). Bạn chỉ xem được hình ảnh với chất lượng đẹp nhất, đầy đủ nhất nếu màn hình được thiết lập đúng độ phân giải đó.
Hầu hết các màn hình LCD 15" hiện nay đều có độ phân giải thực là 1024x768, còn màn hình LCD 17" và 19" thường là 1280x1024. Bất kỳ thông số cài đặt nào thấp hơn độ phân giải thực sẽ gây ra hiện tượng co ảnh (đảm bảo chất lượng hình bằng cách thu nhỏ hình theo kích thước thích hợp) hoặc dãn rộng (hiển thị đầy màn hình nhưng có điều chỉnh đối với các điểm ảnh bị mất, nên thường giảm chất lượng ảnh). Trường hợp ngoại lệ là khi độ phân giải thấp hơn có giá trị bằng đúng một nửa độ phân giải thực, ví dụ như 800x600 so với 1600x1200, hình ảnh sẽ không bị co lại mà cũng không bị dãn rộng ra.



Hình 2: Cài đặt màn hình LCD đúng với độ phân giải thực bằng cách thay đổi thông số trong Display Properties.
Một số màn hình LCD có khả năng điều chỉnh độ phân giải theo thuật toán để hiển thị hình ảnh "mượt mà” hơn khi chúng không đúng với độ phân giải thực của màn hình. Để thực hiện điều này, bạn chọn nhãn Settings trong hộp thoại Display Properties và điều chỉnh con trượt bên dưới mục Screen resolution (Hình 2). Nếu Windows nhận diện chính xác màn hình mà bạn đang sử dụng, thì độ phân giải thực sẽ là độ phân giải cao nhất được hiển thị ở mục này.
Chất lượng màu: Màn hình hiển thị được càng nhiều màu thì hình ảnh càng thật. Hầu hết các máy tính hiện nay đều có khả năng hỗ trợ cài đặt chất lượng màu (color quality) ở mức cao nhất là 32 bit. Nhưng nếu bị tình trạng xử lý đồ hoạ "ì ạch" (đặc biệt khi máy tính sử dụng RAM hệ thống cho cả đồ họa lẫn nhiệm vụ tính toán cơ bản), bạn nên giảm cài đặt màu xuống để tăng tốc cho các tác vụ khác.
Tần số làm tươi: Hiện tượng nhấp nháy trên màn hình CRT thường gây khó chịu cho người dùng và nguyên nhân là do tần số làm tươi (refresh rate) được thiết lập quá thấp. (Hình ảnh trên màn hình CRT được "vẽ lại" theo chu kỳ, nhờ chùm tia điện tử chạy ziczac ngang màn hình). Thông thường, màn hình CRT phải được "vẽ lại" 72 lần trong mỗi giây (72 Hz), để tránh gây nhức mắt. Bạn hãy dựa vào kinh nghiệm để xác định thông số này sao cho phù hợp nhất với mắt của mình (có thể đó không phải là thông số cài đặt cao nhất mà màn hình hỗ trợ).
Màn hình LCD chỉ thực hiện "vẽ lại" đối với các điểm ảnh (pixel) có sự thay đổi, vì vậy bạn sẽ không còn gặp phải tình trạng nhấp nháy. Tốc độ "vẽ lại" từ 40-60 Hz là phù hợp đối với màn hình LCD, trừ trường hợp hãng sản xuất có yêu cầu khác.
Màn hình LCD thường được quan tâm về thời gian đáp ứng (response time). Đó là thời gian cần thiết để một điểm ảnh chuyển từ đen sang trắng và sau đó trở lại đen. Các loại màn hình LCD đời cũ có thời gian đáp ứng chậm hơn 20 miligiây nên thường tạo ra hiện tượng "bóng" đối với các hình chuyển động nhanh. Hiện nay, hầu hết các màn hình LCD trên thị trường đều có thời gian đáp ứng nhanh hơn.

ĐIỀU CHỈNH MÀN HÌNH
Dù màn hình thuộc loại LCD hay CRT, bạn cũng đừng ngại thử điều chỉnh. Việc điều chỉnh thường được thực hiện thông qua các phím nhấn hay nút vặn (xoay) trên màn hình.
Màn hình LCD có thể điều chỉnh dễ dàng hơn màn hình CRT. Bạn hiếm khi phải điều chỉnh vùng hiển thị của màn hình LCD lên, xuống, sang phải hay sang trái, trong khi công việc này phải thường xuyên thực hiện ở màn hình CRT. Ngoài ra, nhiều màn hình LCD còn cung cấp một nút nhấn hay chế độ giúp tự động điều chỉnh và định vị hình ảnh trên màn hình. Cuối cùng, màn hình LCD ít đòi hỏi điều chỉnh màu sắc hay độ tương phản khi đã được thiết lập đúng ở độ phân giải thực.
Dưới đây là các thông số cài đặt thường thấy trên hầu hết các màn hình LCD và cách điều chỉnh chúng. Bạn nên lưu ý, tên gọi của các thông số này có thể khác nhau tùy vào model và hãng sản xuất.



Hình 3: Kích hoạt ClearType trong Windows XP để tăng độ nét văn bản.
Độ sáng và độ tương phản: Kiểm soát độ sáng của đèn nền màn hình. Màn hình LCD thường có độ sáng cao hơn so với CRT, do vậy việc tăng độ sáng thường không cần thiết. Điều chỉnh độ tương phản là làm tối đa mức độ sắc thái màu xám có thể thấy được và màn hình LCD thường bị mất chi tiết hình hiển thị ở mức tối cuối cùng. Bạn có thể tham khảo biểu đồ màu xám trong chương trình Display Mate (, ID: 51554) để biết các điều chỉnh độ tương phản cho hợp lý.
Tông màu: Hầu hết các loại màn hình đều hỗ trợ ít nhất ba tông màu (hoặc sắc độ) để thích hợp với các điều kiện sáng khác nhau. Các giá trị cài đặt này có thể được ký hiệu là Mode 1, Mode 2 và Mode 3, hoặc High, Medium và Low.
Thông tin: Cài đặt này có trong một số màn hình LCD để cung cấp cho người dùng biết độ phân giải hiện tại, cũng như số giờ màn hình này đã hoạt động và số giờ mà đèn nền đã sáng – các thông tin này sẽ giúp ích cho bạn khi ### màn hình LCD đã qua sử dụng.
Các vị trí ngang và dọc: Những cài đặt này cho phép bạn canh giữa hình ảnh trên màn hình một cách thủ công. Tuy nhiên, hầu hết các màn hình LCD đều trang bị một nút nhấn hay các cài đặt sẵn giúp tự động thiết lập các vị trí hiển thị trên màn hình.



Hình 4: Kiểm tra phiên bản DirectX đã cài đặt bằng DirectX Diagnostic Tool.
Xung điểm ảnh và xung pha: Hai trị số cài đặt này còn được biết với tên "coarse"/"fine-tune" (tinh chỉnh). Nếu đang dùng kết nối VGA analog, bạn nên điều chỉnh thủ công các thông số này hơn là phụ thuộc vào tính năng chuyển đổi tự động, để khắc phục tình trạng "điểm ảnh trôi" (swimming pixel).
Ngoài ra, kỹ thuật làm rõ phông chữ ClearType của Windows XP sẽ làm sắc nét văn bản trên màn hình LCD. Chọn nhãn Appearance trong hộp thoại Display Properties, chọn Effects, đánh dấu mục Use following methods to smooth screen fonts, và chọn ClearType từ trong trình đơn thả xuống (Hình 3). Để có nhiều khả năng điều chỉnh ClearType hơn, bạn hãy thử sử dụng tiện ích ClearType Tuner PowerToy của Microsoft .
DirectX là công nghệ Windows có thể nâng cao chất lượng đồ họa và âm thanh. Để biết mình sử dụng phiên bản mới nhất chưa (hiện nay là DirextX 9.0c, tải về tại find.pcworld.com/51546), bạn hãy sử dụng DirectX Diagnostic Tool. Nhấn Start.Run, gõ vào lệnh dxdiag, ấn , và tìm phiên bản DirextX đang sử dụng ở nhãn System (Hình 4).
Kết nối kỹ thuật số DVI cho hình ảnh đẹp hơn so với kết nối VGA analog của màn hình CRT. Nếu màn hình LCD hỗ trợ DVI nhưng card đồ họa của máy tính chỉ hỗ trợ cổng VGA, bạn nên tính đến việc nâng cấp; hiện nay card đồ họa hỗ trợ kết nối DVI có giá dưới 50USD. Nếu hình ảnh được hiển thị quá tối ngay cả khi đã thiết lập độ sáng ở mức cao nhất, hãy tiến hành chỉnh thông số gamma trong hộp thoại Display Properties của Windows.
CẤP CỨU MÀN HÌNH ICD
Màn hình LCD có thể dễ bảo quản hơn màn hình CRT, tuy nhiên chúng vẫn có thể bị hỏng vào một lúc nào đó. Sau đây là hai "sự cố" phổ biến ở màn hình LCD và cách khắc phục:
Màn hình tối đen: Nếu đèn báo Power On vẫn cháy sáng nhưng màn hình vẫn "tối như đêm 30", bạn hãy kiểm tra lại kết nối giữa màn hình và máy tính. Nếu dây cáp này vẫn được nối chắc chắn ở hai đầu, bạn cần sử dụng một màn hình khác để bảo đảm rằng cả cáp nối lẫn card đồ họa đều hoạt động tốt. Nếu màn hình thứ hai này có hiện hình, màn hình trước đã bị hỏng. Một trong những nguyên nhân thường gặp là đèn nền bị hỏng. Bạn có thể nhờ cửa hàng máy tính để sửa lỗi này hoặc tự mình thực hiện. Tuy nhiên, bạn cần tham khảo giá sửa chữa vì cũng có lúc ### một màn hình mới sẽ kinh tế hơn.
Điểm ảnh chết: Hầu hết các hãng sản xuất màn hình LCD đều cho phép tồn tại một vài điểm ảnh hỏng trong sản phẩm của mình (từ 3 đến 10 điểm ảnh) và vượt qua con số đó mới xem là màn hình hỏng. Bạn hãy kiểm tra số điểm ảnh chết trên màn hình LCD của mình ngay ở lần đầu tiên sử dụng.